Xuất khẩu dừa và các sản phẩm từ dừa tăng mạnh

Kim ngạch xuất khẩu trái dừa và các chế phẩm từ dừa trong tháng 5/09 đạt 2,9 triệu USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dừa đạt 19,6 triệu USD, tăng 39,2% so với cùng kỳ 5 tháng 2008.
Thị trường xuất khẩu cơm dừa đang được mở rộng nhưng đơn giá trung bình xuất khẩu cơm dừa sấy khô trong những tháng đầu năm 2009 giảm khá mạnh so với cùng kỳ, hiện đang đứng ở mức 775,3 USD/tấn, giảm 34% so với 5 tháng 2008.
Trong 5 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu thêm một số mặt hàng như lá dừa, kẹo dừa và Bã dừa. Kim ngạch của 3 mặt hàng trên đạt lần lượt 5,5 nghìn USD, 11,9 nghìn USD và 3,6 nghìn USD.

Dừa là một trong những loại mặt hàng hoa quả xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Khác với những loại hoa quả khác, ngoài việc trồng dừa để lấy quả thì thân dừa có thể dùng làm đũa, vỏ dừa dùng làm dây thừng, lá dừa sấy khô làm đồ trang trí…Trong những năm gần đây, dừa và các sản phẩm chế biến từ dừa luôn đạt mức tăng trưởng cao về lượng và kim ngạch. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu trái dừa và các chế phẩm từ dừa trong tháng 5/09 đạt 2,9 triệu USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dừa đạt 19,6 triệu USD, tăng 39,2% so với cùng kỳ 5 tháng 2008.
Trong 5 tháng đầu năm 2009, có 58 thị trường nhập khẩu dừa và các loại chế phẩm từ dừa của Việt Nam, tăng 19 thị trường so với cùng kỳ 2008. Trong thời điểm xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn, thị trường bị co hẹp lại nhưng thị trường xuất khẩu các sản phẩm dừa vẫn đang được mở rộng là điều đáng mừng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu rau hoa quả của Việt Nam.
Trong số những thị trường trên có 3 thị trường nhập khẩu chính là Trung Quốc, Ai Cập và Xiri (3 thị trường này đạt 11,8 triệu USD, chiếm 60,4% tổng kim ngạch). Có khá nhiều thị trường đạt kim ngạch cao trong 5 tháng đầu năm, trong đó, Trung Quốc là thị trường đạt kim ngạch cao nhất trong 5 tháng đầu năm 2009 với 7,6 triệu USD, tăng 54,4% so với cùng kỳ 2008. Tiếp đến là Ai cập đạt 2,8 triệu USD, tăng 169%; Xiri đạt 1,4 triệu USD, tăng 152,1%.
Tuy nhiên cũng có nhiều thị trường giảm đáng kể về kim ngạch như Hàn Quốc giảm 8,1%; Pháp giảm 64%; Ba Lan giảm 72,4%; ả rập xê út giảm 91,4%...

Thị trường xuất khẩu dừa và chế phẩm từ dừa 5 tháng đầu năm 2009

Thị trường

5T/2009

5T/2008

5T/09 so 5T/08 (%)

Trị giá (USD)

Trị giá (USD)

Tổng

19.563.978,4

14.041.771,0

39,3%

Trung Quốc

7.605.310,0

4.926.258,2

54,4%

Ai Cập

2.851.621,8

1.059.945,5

169,0%

Xiri

1.355.453,5

537.717,1

152,1%

Campuchia

1.115.620,0

368.530,0

202,7%

Các TVQ ả Rập thống nhất

984.547,7

769.655,0

27,9%

Tây Ban Nha

680.232,9

83.790,0

711,8%

Nga

348.860,6

285.049,4

22,4%

Hà Lan

194.620,0

121.916,8

59,6%

Thái Lan

180.000,0

255.600,0

-29,6%

Yêmen

166.092,5

107.260,0

54,9%

Thổ Nhĩ Kỳ

153.734,6

51.000,0

201,4%

Pháp

142.121,0

399.338,0

-64,4%

Li Băng

134.842,5

32.512,5

314,7%

Gioocdani

132.607,4

57.500,0

130,6%

Hàn Quốc

114.476,0

617.106,4

-81,4%

Kô-eot

105.996,2

27.174,9

290,1%

Urugoay

91.489,9

68.370,0

33,8%

Iran

86.530,0

149.577,2

-42,2%

Mỹ

86.020,0

38.624,0

122,7%

Marôc

85.382,9

251.325,0

-66,0%

Bồ Đào Nha

84.860,0

72.548,0

17,0%

Chilê

72.083,5

36.785,0

96,0%

Achentina

69.650,0

22.137,5

214,6%

Anh

69.224,5

201.439,8

-65,6%

Đài Loan

55.858,0

312.322,2

-82,1%

Hồng Kông

45.567,7

41.102,7

10,9%

Ba Lan

38.815,1

140.570,0

-72,4%

ả Rập Xê út

35.324,5

409.514,2

-91,4%

Nhật Bản

34.750,3

129.424,6

-73,2%

Đức

28.005,0

332.109,9

-91,6%

Libi

24.062,5

28.569,7

-15,8%

Baren

20.355,7

13.096,3

55,4%

Bănglađet

19.110,0

8.400,0

127,5%

Hy Lạp

13.500,0

19.747,0

-31,6%

Braxin

11.730,0

540.305,0

-97,8%

Paragoay

10.925,0

73.125,0

-85,1%

Bỉ

10.821,0

173.455,1

-93,8%

Qata

9.940,0

24.316,5

-59,1%

Lítva

9.790,0

34.450,1

-71,6%

Về chủng loại xuất khẩu dừa và các chế phẩm từ dừa khá đa dạng so với năm ngoài. Các mặt hàng xuất khẩu củ thể gồm có dừa tươi, dừa khô lột vỏ, cơm dừa sấy khô, nước dừa cô đặc, thạch dừa, dừa nạo làm mứt, kẹo dừa, lá dừa và bã dừa. Trong đó, cơm dừa sấy khô xuất khẩu đạt cao nhất với 13,3 nghìn tấn, kim ngạch đạt 10,3 triệu USD, tăng rất mạnh về lượng với 111%, kim ngạch tăng 37,8%. Thị trường xuất khẩu cơm dừa đang được mở rộng nhưng đơn giá trung bình xuất khẩu cơm dừa sấy khô trong những tháng đầu năm 2009 giảm khá mạnh so với cùng kỳ, hiện đang đứng ở mức 775,3 USD/tấn, giảm 34% so với 5 tháng 2008.

Tham khảo một số thị trường nhập khẩu cơm dừa sấy khô của Việt Nam 5T/09

Thị trường

2009

2008

5T/09 so 5T/08 (%)

Trị giá (USD)

Trị giá (USD)

Ai Cập

2.851.621,8

1.059.945,5

169,0%

Xiri

1.355.453,5

537.717,1

152,1%

Các TVQ ả Rập thống nhất

984.547,7

769.655,0

27,9%

Tây Ban Nha

680.232,9

83.790,0

711,8%

Nga

348.860,6

285.049,4

22,4%

Yêmen

166.092,5

107.260,0

54,9%

Hà Lan

161.980,0

121.916,8

32,9%

Thổ Nhĩ Kỳ

153.734,6

51.000,0

201,4%

Pháp

142.121,0

399.338,0

-64,4%

Li Băng

134.842,5

32.512,5

314,7%

Gioocdani

132.607,4

57.500,0

130,6%

Kô-eot

105.996,2

27.174,9

290,1%

Urugoay

91.489,9

68.370,0

33,8%

Iran

86.530,0

149.577,2

-42,2%

Marôc

85.382,9

251.325,0

-66,0%

Bồ Đào Nha

84.860,0

72.548,0

17,0%

Chilê

72.083,5

36.785,0

96,0%

Achentina

69.650,0

22.137,5

214,6%

Anh

67.622,5

201.439,8

-66,4%

Ba Lan

37.765,1

140.570,0

-73,1%

Ẩ Rập Xê út

35.324,5

409.514,2

-91,4%

Đức

24.605,0

332.109,9

-92,6%

Libi

24.062,5

28.569,7

-15,8%

Baren

20.355,7

13.096,3

55,4%

Hồng Kông

15.858,1

16.769,7

-5,4%

Hy Lạp

13.500,0

19.747,0

-31,6%

Braxin

11.730,0

540.305,0

-97,8%

Paragoay

10.925,0

73.125,0

-85,1%

Lítva

9.790,0

34.450,1

-71,6%

Tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm dừa 5 tháng đầu năm 2009

Tiếp đến là mặt hàng dừa khô lột vỏ với kim ngạch xuất khẩu đạt 8,9 triệu USD, tăng 131,8% so với cùng kỳ. thị trường xuất khẩu dừa khô lột vỏ là Trung Quốc, Cam pu chia, TháI Lan, Hàn Quốc và Hồng Kông. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt cao nhất với 7,5 triệu USD, tăng 135% so với cùng kỳ; Cam pu chia đạt 1,1 triệu USD, tăng 1943%...
Kim ngạch xuất khẩu dừa tươi trong 5 tháng đầu năm mới chỉ ở dạng tiềm năng nhưng cũng tăng mạnh so với cùng kỳ, đạt 9,9 nghìn, tăng 113%.
Trong 5 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu thêm một số mặt hàng như lá dừa, kẹo dừa và Bã dừa. Kim ngạch của 3 mặt hàng trên đạt lần lượt 5,5 nghìn USD, 11,9 nghìn USD và 3,6 nghìn USD.

Rauhoaquavietnam.vn

 
[In trang] [Đóng cửa sổ]